NGUYỄN VĂN LẬP TRƯỜNG THPT HIẾU PHỤNG VŨNG LIÊM VĨNH LONG
Chia sẽ kiến thức
Đăng Nhập

Quên mật khẩu

Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 


Rechercher Advanced Search

Latest topics
» KIẾM TIỀN
Sat Aug 10, 2013 9:08 pm by nguyenvanlap

» GIÁO DỤC
Sat Dec 22, 2012 10:45 pm by nguyenvanlap

» KINH TẾ
Sat Dec 22, 2012 10:20 pm by nguyenvanlap

» KHÍ HẬU
Sat Dec 22, 2012 10:16 pm by nguyenvanlap

» HÀNH CHÍNH
Sat Dec 22, 2012 10:13 pm by nguyenvanlap

» NGÔN NGỮ
Sat Dec 22, 2012 10:09 pm by nguyenvanlap

» KHÁI QUÁT
Sat Dec 22, 2012 10:06 pm by nguyenvanlap

» QUY ĐỊNH
Sun Dec 09, 2012 11:36 pm by nguyenvanlap

» DANH SÁCH
Sun Dec 09, 2012 8:44 pm by nguyenvanlap

November 2017
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930   

Calendar Calendar


Quy luật phi địa đới

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Quy luật phi địa đới

Bài gửi  nguyenvanlap on Sun Sep 02, 2012 9:07 pm


1. Khái niệm.
Khi nghiên cứu tỉ mỉ hơn các đới cảnh quan người ta đã phát hiện ra rằng chúng tuyệt nhiên không bao giờ có dạng những dải liên tục mà rất hay đứt đoạn. Mỗi qui luật tự nhiên hoạt động một cách khác nhau trong những điều kiện khác nhau. Chỉ trong điều kiện mà bề mặt Trái Đất tuyệt đối đồng nhất về địa hình, về vật liệu, các đới tự nhiên mới có dạng dải đều đặn và liên tục. Tuy nhiên trong tiến trình phát triển kiến tạo của Trái Đất, bề mặt của nó được đặc trưng không chỉ bằng qui luật địa đới mà còn bằng qui luật phi địa đới mà cơ sở của nó là nguồn năng lượng bên trong của Trái Đất.

2. Phạm vi biểu hiện của quá trình phân dị phi địa đới.
a. Có sự biến đổi của các thành phần và cảnh quan tự nhiên theo chiều cao để hình thành nên các vành đai theo độ cao.
− Nguyên nhân:
Sự thay đổi tình trạng cân bằng nhiệt theo độ cao là nguyên nhân của tính vòng đai theo độ cao. Cường độ bức xạ Mặt Trời tăng lên mạnh mẽ theo độ cao, bởi vì bề dày và mật độ của quyển khí giảm đi, hơn nữa hàm lượng hơi nước và bụi trong đó cũng giảm xuống một cách đột ngột. Nhưng mặt khác sự tỏa ra của bức xạ sóng dài lại tăng lên nhanh hơn, làm cân bằng bức xạ bị giảm đi một cách nhanh chóng và nhiệt độ bị hạ thấp. Građien nhiệt độ theo chiều thẳng đứng vượt građien nhiệt độ theo độ vĩ gấp hàng trăm lần, vì thế trên một khoảng cách vài km theo chiều thẳng đứng có thể thấy sự thay đổi của các hiện tượng địa lí tự nhiên diễn ra nhanh hơn so với cùng một khoảng cách theo chiều ngang từ chí tuyến đến cực.
− Biểu hiện:
+ Những thay đổi về mức làm ẩm theo độ cao không trùng với những thay đổi theo độ vĩ. Ở các miền núi tình hình phân bố mưa được đặc trưng bằng một bức tranh cực kì loang lổ, bằng những tương phản lớn giữa các sườn đón gió ẩm ướt và các sườn khuất gió khô hạn, cũng như giữa các lòng chảo kín.
+ Các vòng đai theo độ cao có sự thay thế nhau, nhưng “phổ” của chúng hoàn toàn không lặp lại tính liên tục của các đới theo độ vĩ. VD: Ở nhiều miền núi không có vòng đai rừng, cũng như vòng đai đài nguyên.
+ Đặc điểm quan trọng của tính vòng đai theo độ cao là tính rất nhiều vẻ về các kiểu của nó. Có thể nói mỗi đới theo độ vĩ vốn có một dãy vòng đai riêng được đặc trưng bằng số lượng vòng đai, tính liên tục, ranh giới độ cao cũng như một số đặc điểm khác. Ở gần xích đạo, số lượng vòng đai có thể tăng lên, còn ranh giới của những vòng đai ấy di chuyển lên phía trên.
+ Sự phân bố sinh vật theo đai cao: Điều kiện nhiệt - ẩm của khí hậu không chỉ thay đổi theo vĩ độ mà còn thay đổi theo độ cao của địa hình, biểu hiện ở việc hình thành các đai cao khí hậu. Tương ứng với các đai cao của khí hậu cũng có các đai cao sinh vật. Sự thay đổi của các vành đai sinh vật theo độ cao (chiều thẳng đứng) cũng có quy luật tương tự như sự thay đổi của các đới sinh vật theo chiều vĩ độ từ xích đạo tới 2 cực. Ví dụ ở một vùng núi cao ôn đới lạnh: từ chân núi lên tới đỉnh có thể gồm: đai rừng lá kim, đồng cỏ núi cao, trên cùng là đai băng tuyết vĩnh cửu.

b. Có sự phân dị của các thành phần và cảnh quan tự nhiên theo kinh độ (theo hướng đông – tây).
− Nguyên nhân:
Do sự phân biệt giữa các khối lục địa và vùng trũng đại dương.
− Biểu hiện:
+ Ở các ô khí hậu lục địa những tương phản địa đới trở thành sâu sắc hơn; còn ở các khu vực gần đại dương chúng lu mờ đi. Có lẽ điều đó được biểu hiện một cách cụ thể nhất trong các chỉ số làm ẩm.
+ Những đặc điểm nói trên của các địa ô biểu hiện cả ở các chỉ số địa lí tự nhiên khác, thí dụ ở trữ lượng của khối thực vật và ở năng suất sinh học. Có thể thấy rõ rằng đối với các ô gần đại dương nói chung thực vật hùng hậu và có năng suất cao hơn đối với các ô khí hậu lục địa. Qua những điều nói trên có thể thấy rằng bất kì đới cảnh quan nào ở các địa ô khác nhau đều không giống nhau.
+ Sự phân bố của sinh vật theo địa ô: Sự phân bố đất liền và biển làm cho khí hậu có sự phân hoá từ đông sang tây. Càng vào trung tâm lục địa thì độ lục địa của khí hậu càng tăng, khí hậu càng khô hơn, biên độ nhiệt ngày đêm và biên độ nhiệt mùa càng lớn, ảnh hưởng đến dạng sống và sự phân bố của sinh vật, nhất là thảm thực vật. Vì vậy ở ven biển và đại dương, độ ẩm lớn thuận lợi cho các kiểu thực bì rừng. Còn ở sâu trong lục địa, khí hậu khô khan, nên xuất hiện cây bụi, đồng cỏ, hoang mạc.

3. Ý nghĩa:
Tính phi địa đới cũng có ý nghĩa địa lí chung tương tự như tính địa đới. Không có một hiện tượng địa lí tự nhiên nào có thể được nghiên cứu ở ngoài tính phi địa đới, bởi vì nó không thể thoát khỏi ảnh hưởng tính lục địa của khí hậu, độ cao trên mực nước biển, cấu trúc địa chất… Như vậy, tính địa đới và tính phi địa đới đấu tranh với nhau trong sự thống nhất biện chứng.
Sự phân bố lượng mưa có thể là một ví dụ. Ở đây quy luật địa đới theo độ vĩ biểu hiện khá rõ rằng lượng mưa đồng thời giảm đi từ rìa vào trung tâm lục địa do ảnh hưởng của các nguyên nhân phi địa đới. Các diện phân bố thực vật, động vật và quần xã của chúng cũng được hình thành một cách tương tự: các nhân tố địa đới cũng như phi địa đới qui định giới hạn của chúng.

4. Biểu hiện của qui luật phi địa đới ở Việt Nam.

a. Qui luật phân hoá theo kinh độ ở Việt Nam
− Nguyên nhân: sự phân hoá theo kinh độ chủ yếu do hiệu ứng phơn và tác dụng bức chắn của địa hình gây ra, còn vị trí so với biển thì ít tác dụng do nước ta hẹp ngang.
− Biểu hiện:
+ Nơi đón gió mùa đông bắc sẽ lạnh hơn nơi khuất gió đến vài ba độ, đồng thời cũng ẩm hơn vì có mùa đông và mưa địa hình.
+ Nơi đón gió mùa tây nam cũng ẩm hơn và bớt nóng hơn so với nơi chịu hiệu ứng phơn. Các dãy núi bình phong quan trọng nhất là dải Hoàng Liên Sơn, dải núi biên giới Việt – Lào, dải Trường Sơn (Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ), thứ đến dải Ngân Sơn.
+ Nơi có độ lục địa lớn nhất ở Việt Nam, thể hiện ở biên độ nhiệt trong năm lớn, là Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ, với biên độ nhiệt trung bình năm 12-140C.
+ Nơi có độ lục địa lớn thứ hai là miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, vì nơi đây còn chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc. Biên độ nhiệt trung bình năm từ 10-12OC.
+ Từ phía nam đèo Hải Vân, biên độ xuống dưới 100C, còn từ phía nam Nha Trang, biên độ xuống dưới 50C, đạt tiêu chuẩn khí hậu xích đạo điều hòa.
+ Sự phân hóa về phương diện nhiệt ẩm còn thể hiện qua sự phân bố của giới sinh vật.
o Luồng thực vật á nhiệt đới Hoa Nam chủ yếu chỉ lan tràn trong miền Bắc và Đông bắc Bắc Bộ.
o Luồng thực vật rụng lá mùa khô Ấn Độ- Miến Điện tập trung phần lớn ở Tây Bắc và Tây Nguyên. o Luồng Mã Lai - Inđônêxia ít khi lên trên vĩ tuyến 160B, nơi có biên độ năm vượt quá 100C.

b. Qui luật phân hóa theo các điều kiện kiến tạo - địa mạo ở Việt Nam.
− Nguyên nhân: đất nước ta có cấu trúc địa hình đa dạng và nhiều hướng.
− Biểu hiện: các khu vực kiến tạo - đia mạo:
+ Nền Hoa Nam:
o Là một nền hoạt động, có tính chất trung gian, chuyển tiếp giữa kiểu nền điển hình và kiểu địa tào điển hình, trên nền móng kết tinh vẫn có thể diễn ra các thành tạo uốn nếp, hiện tượng nền móng bị vỡ vụn và chuyển động lại đặc biệt diễn ra mạnh mẽ tại khu vực rìa.
o Rìa nền hoạt động Hoa Nam trong phạm vi khu Việt Bắc là một khối nâng duy nhất trong phức nếp lõm Vân Nam-Quảng Tây.
o Ranh giới phía nam của nền là đới nham tướng sông Hồng với hai đứt gãy rìa là đứt gãy sông Chảy và sông Hồng.
o Bộ phận rìa nền trong phạm vi khu Đông Bắc thuộc vùng trũng kiểu nền Quảng Đông – Quảng Tây.
o Vùng duyên hải và hải đảo có lẽ cần phải xem như là một phức nếp lồi của nền Hoa Nam.
+ Địa máng Đông Dương: phía nam đứt gãy sông Hồng, là một địa máng tái sinh trên cơ sở một nền móng kết tinh tiền Cambri, vì thế trong lòng địa máng rải rác nhiều địa khối nhỏ như địa khối Hoàng Liên Sơn, cánh cung sông Mã, địa khối Pu Hoàt, địa khối Pu Lai Leng - Rào Cỏ. Địa khối lớn ở trung tâm là địa khối Inđôsini mà thuộc lãnh thổ Việt Nam là khối nhô Công Tum. Cấu trúc của các địa khối ấy rất giống nhau, thường bao gồm các đá biến chất tiền cambri và xâm nhập granit, các trầm tích Cổ sinh và Trung sinh của lớp phủ cũng khá dày.
Có thể phân ra một số đơn vị như:
o Địa máng Tây Bắc mà ranh giới phía nam là đứt gãy sông Mã.
o Địa máng Sầm Nưa - sông Cả, ranh giới phía Nam là đứt gãy sông Cả.
o Địa máng Trường Sơn.
o Địa khối Công Tum.
c. Qui luật phân hóa theo đai cao ở Việt Nam.
− Nguyên nhân: do ảnh hưởng của vận động nâng lên tân kiến tạo mà 3/4 lãnh thổ Việt Nam là đồi núi chia cắt sâu và dày, non một nửa cao trên 500m.
− Biểu hiện: theo Vũ Tự Lập (1978), ở Việt Nam phân ra ba đai cao với nhiều á đai là:
+ Đai nội chí tuyến chân núi từ 0 đến 600m: mùa hạ nóng, với nhiệt độ trung bình tháng trên 250C, thoả mãn yêu cầu về nhiệt cao của các loài cây nhiệt đới và xích đạo. Đai nội chí tuyến chân núi có thể chia nhỏ thành 3 á đai.
o Á đai 0 - 100m: miền Bắc không có mùa đông rét, miền Nam nóng quanh năm.
o Á đai 100 - 300m: miền Bắc có nơi đã có mùa đông rét, miền Nam mùa nóng đã giảm sút.
o Á đai 300 - 600m: miền Bắc nhiều nơi có mùa đông rét, miền Nam mùa nóng giảm đến một nửa.
+ Đai á nhiệt đới hơi ẩm đến ẩm ướt trên núi từ 600 đến 2600 m
o Á đai 600 - 1000m: tại miền Nam, á đai này còn mang nhiều tính chất chuyển tiếp, do số tháng trên 200C chiếm đa số tuyệt đối, còn tại miền Bắc, tính chất chuyển tiếp vẫn còn thể hiện ở nhiệt độ mùa đông cao hơn ở vùng á nhiệt đới ngang (thí dụ, tại Aten, vĩ độ 37058’B mùa đông xuống dưới 100C ). Các loài cây nhiệt đới dễ tính cũng như đất feralit đỏ vàng còn có thể xuất hiện trong á đai này.
o Á đai 1000 – 1600m: ở miền Bắc là á đai nhiệt điển hình. Ở miền Nam: quanh năm nhiệt độ xấp xỉ nhệt độ các mùa xuân - thu ở vùng á nhiệt đới.
o Á đai 1600 – 2600m: Có tính chất chuyển tiếp lên đai ôn đới do không còn tháng nào trên 200C, tháng nóng nhất cũng chỉ xấp xỉ nhiệt độ mùa hạ ôn đới. Mùa đông vẫn chưa lạnh bằng mùa đông ôn đới, là á đai rừng rêu trên đất mùn alít vì khí hậu lạnh và ẩm ướt quanh năm.
+ Đai ôn đới hơi ẩm đến ẩm ướt trên núi từ 2.600m trở lên, chỉ phát triển hạn chế tại một số núi cao trên dưới 3.000m ở miền Bắc Việt Nam (Pu Si Lung, Hoàng Liên Sơn). Quanh năm rét dưới 250C, mùa đông xuống dưới 100C, thực vật ôn đới chiếm đa số tuyệt đối: cây lá rộng có các loài cây Đỗ quyên (Ericaceae), cây lá kim có hai loài đặc biệt chỉ xuất hiện từ 2600m trở lên như Thiết sam (Tsuga yunnanenisis), Lãnh sam (Abies Pindrow); đặc biệt từ 2800m họ Tre Trúc lùn chiếm ưu thế, có nơi tạo thành một thảm thấp 20 – 30cm dày đặc.
Lê Thanh Long @ 13:23 20/01/2011
avatar
nguyenvanlap
Phong Tặng
Phong Tặng

Tổng số bài gửi : 390
Join date : 07/12/2010

Xem lý lịch thành viên http://diavinhlong.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết